Giáo sư Canada gốc Việt Huỳnh Hữu Tuệ : Giáo dục Việt Nam : Quá “kỳ dị” và “dị kỳ” quá! (Phần II)
03/07/2008Giáo sư – Tiến sĩ Huỳnh Hữu Tuệ
PV : Nếu là Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo, ông sẽ làm gì đầu tiên? Những việc đầu tiên Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo làm như chống tiêu cực, hai không… liệu có phải là giải pháp sống còn, hay chỉ giống như phong trào người tốt việc tốt?
GS HHT : Nếu tôi là Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo, việc đầu tiên tôi làm là tách Bộ ra làm hai. Một bộ lo cho trung học, dạy nghề và thiếu nhi, một bộ lo cho đại học và sau đại học. Nhu cầu và mục tiêu của hai lĩnh vực này hoàn toàn khác nhau.
Trung học, dạy nghề đặt ra mục tiêu là đào tạo con người cho xã hội, chỉ cần học đến lớp 12 là đủ. Phần tiếp theo đào tạo nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Hai việc đào tạo này hoàn toàn khác nhau về mục tiêu, phương pháp luận nên đặt cùng một Bộ sẽ khó tổ chức.
Phần đại học sẽ tập trung ngân sách xây dựng một số trường đại học công lập thật sự chuyên nghiệp theo đúng nghĩa đào tạo nhân lực cấp cao. Một người tốt nghiệp đại học phải biết cách tổng hợp kiến thức, nắm được phương pháp luận, có tư duy độc lập, tư duy phê phán và tư duy sáng tạo. Nhưng rõ ràng, hệ thống đại học của Việt Nam không đáp ứng bất cứ điều nào ở trên.
PV : Ở cấp I, học sinh phải học đúng những gì thầy dạy, làm đúng những gì thầy nói như một cỗ máy nhận lệnh điều khiển từ xa. Ở cấp II, cấp III cũng vậy và lên đến đại học cũng không khác gì. Sinh viên trong 4, 5 năm học đại học giống như người chép thuê tài liệu. Họ không có điều kiện sáng tạo, phản biện và đối thoại với các giáo sư về bất cứ điều gì cho đến khi nhận tấm bằng ra trường…
GS HHT: Một sinh viên rất xuất sắc của tôi (cử nhân chất lượng cao) tâm sự : Học xong không biết mình học cái gì? Từ lúc em học đại học đến bây giờ, học xong quên ngay, mặc dù môn nào cũng đạt điểm 9,10. Đó chỉ là một trường hợp điển hình cho việc đi ngược lại những mục tiêu giáo dục. Nhẽ ra, giáo dục đại học phải giúp sinh viên đủ sức tích hợp và tổng hợp kiến thức để biến kiến thức đó thành của bản thân. Sản phẩm của một nền đại học theo đúng nghĩa của nó là phải đảm bảo ba điều, thứ nhất là tư duy độc lập, thứ hai là tư duy phê phán, thứ ba là tư duy sáng tạo. Nếu không có những tư duy này làm sao sáng tạo, sáng chế được? Nên kết cục chỉ đi làm thợ, làm thuê cho các tập đoàn nước ngoài!
PV : Vậy một thực tế như ông nói, một sinh viên suất sắc nhưng ra trường lại hổng kiến thức, thậm chí không biết gì là do lỗi của sinh viên hay do phương pháp giảng dạy?
GS HHT : Đó là lỗi của hệ thống giáo dục. Một sinh viên 22 tuổi, ham học, ham nghiên cứu, có tư duy sáng tạo độc lập, nhưng chỉ vì phương pháp giảng dạy dẫn đến thực tế không có kiến thức
PV : Ông đã có đề cập đến trường tư. Thực tế ở Mỹ có rất nhiều trường tư danh tiếng hơn trường công ?
GS HHT : Không thể khẳng định như thế được. Không thể lấy hệ thống giáo dục của Mỹ so sánh với Việt Nam, vì như thế giống như châu chấu đá voi. Những trường đại học nổi tiếng của Mỹ là đại học công. Nhiều đại học công ở Pháp, Anh cũng là những đại học chất lượng hàng đầu. Tại sao giáo dục Mỹ đề cao đại học tư là do lịch sử từ hàng trăm năm trước, sức mạnh liên bang không ghê gớm, nhưng sức mạnh cá nhân rất lớn. Đại học tư xuất phát từ những trí tuệ cá nhân muốn tạo ra. Hệ thống đại học tư chủ yếu là do một gia tài lịch sử chứ không phải chiến lược phát triển.
PV : Tôi nói như vậy vì muốn lật lại quan điểm của một số người, kể cả những giáo sư hàng đầu đang nghiêng về phía chạy trốn việc phải thiết lập lại cách thức của một đại học công, mà họ muốn xử lý theo đại học tư. Họ đang hy vọng một hệ thống đại học tư trong tương lai sẽ tạo ra một diện mạo mới cho giáo dục Việt Nam.
GS HHT : Tại sao nền giáo dục khoa học của Việt Nam kém phát triển? Vì phương pháp giảng dạy phản sư phạm, dạy Triết mà không cho sinh viên nói ngược lại, học thuộc lòng thì làm sao hiệu quả được? Ví dụ trong môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự nghiệp của Bác Hồ thành công như vậy là vì sao, không ai cắt nghĩa được dù đã có hàng trăm công trình nghiên cứu. Theo tôi hiểu, thành công của Hồ Chí Minh là tích hợp 4 điểm : Tư duy độc lập, sáng tạo, phê phán. Thứ 2 : kiến thực cực kỳ rộng và tổng hợp được kiến thức nhân loại. Thứ 3 : một nhà chiến lược, lãnh đạo cực kỳ siêu đẳng. Bối cảnh lịch sử làm cho ba yếu tố này : tư duy, kiến thức, lãnh đạo kết hợp với nhau và cộng với thời cơ tìm được con đường giải phóng…
PV : Hiện nay, ông thấy có cơ hội để đổi thay nền giáo dục Việt Nam, hay đó chỉ là cái đi bên ngoài?
GS HHT : Muốn nền giáo dục thay đổi toàn diện thì phải đặt trên bối cảnh chung của toàn xã hội. Một nền giáo dục là tấm gương phản ánh trung thực nội dung xã hội. Những việc Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân làm, theo tôi hiểu là thu hút sự chú ý của người dân bằng cách tấn công trực di
ện vào giáo dục. Một lãnh đạo thông minh sẽ làm như vậy.
PV : Theo một vài chuyên gia thì chiếc chìa khóa cơ bản nhất để thay đổi nền giáo dục Việt Nam vẫn chưa được đưa ra.
GS HHT : Bây giờ có ba điều không thể chạy : Ở đại học, chương trình giảng dạy xơ cứng. Có một chuyện rất buồn cười để giải thích tại sao trí tuệ lại không phát triển như vậy. Ở Việt Nam, giáo trình cho một giờ dạy chỉ được phép viết 3 trang. Một giờ tôi giảng tối thiểu phải 50 trang. Sinh viên muốn học tốt giờ của tôi cũng phải đọc tối thiểu 50 trang. Trong khi Việt Nam chỉ đọc 3 trang. Thầy viết thế nào trên bảng thì trò chỉ đọc lại như thế. Thay đổi nội dung rất dễ, không có gì khó.
Năm 2005, trong một cuộc gặp với Phó Thủ tướng Vũ Khoan, tôi đã đặt câu hỏi : “Thưa Phó Thủ tướng, nền giáo dục Việt Nam gần 20 năm qua, năm nào cũng có hàng chục cuộc họp mổ xẻ, nhưng tôi chưa thấy có một chiến lược rõ rệt nào. Chiến lược ưu tiên cho giáo dục, coi giáo dục là hàng đầu, nhưng đó là một điều chung chung chứ đâu phải chiến lược cụ thể?” Phó Thủ tướng có nói một câu, đại ý là : Muốn thay đổi nền giáo dục phải có công nghệ mới. Vậy mà hầu hết các các bộ giảng dạy ở đại học đều được đào tạo theo hệ thống cũ. Phó Thủ tướng Vũ Khoan cũng nhấn mạnh, trong điều kiện khách quan hiện nay, muốn hiện đại hóa nền giáo dục đại học Việt Nam, ta cần phải có thời gian để đào tạo những con người mới.
PV : Và theo tôi thì những con người mới của nền giáo dục Việt Nam chính là các thạc sĩ, tiến sĩ và giáo sư, những người trực tiếp tạo ra nền giáo dục mới ấy? Nếu không đổi mới từ gốc thì làm sao có cái cây, cái ngọn mới được?
GS HHT : Cái tôi khó chịu nhất là anh em Việt Nam rất hãnh diện với chức danh Phó Giáo sư hay Giáo sư, nhưng ở trên thế giới, những chức danh này không có ý nghĩa gì hết. Xã hội Việt Nam xuất phát từ Nho giáo, nên chức danh rất quan trọng. Nhưng việc tổ chức trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học lại cực kỳ trì trệ và phản khoa học. Những người được phong chức danh chưa chắc có thực chất, những người có thực chất chưa chắc đã được phong, nên có một nhóm luôn tìm cách bảo vệ nhau. Cách phân phát ngân sách trong nghiên cứu khoa học theo kiểu cào bằng.
Vấn đề là nằm ở cơ chế! Nền giáo dục đại học đã hiện hữu 100 năm từ thời kỳ Pháp thuộc. Tinh thần giáo dục đại học mà Pháp đưa sang cực kỳ tốt. Bác Hồ cũng nói, mình chống thực dân Pháp chứ không chống văn hóa Pháp. Các trường đại học thời Pháp như Cao đẳng Mỹ thuật, Đại học Y dược, Cao đẳng Sư phạm đào tạo được một đội ngũ trí thức có nhân cách, trí tuệ.
PV : Hàng năm, ngân sách của Nhà nước dành cho giáo dục là rất lớn. Năm 2006 tăng 33% và là cao nhất trong các năm. Năm 2008, Chính phủ còn dự chi cho giác dục 20% tổng ngân sách của cả nước. Nhưng chất lượng giáo dục vẫn chưa có biến chuyển thực chất?
GS HHT : Bây giờ muốn có một đại học nề nếp, ngang tầm thì phương pháp, nội dung giảng dạy phải thay đổi. Mà muốn làm được thì phải có ngân sách. Nhiều nhà cải cách giáo dục cho rằng, ngân sách không phải là điều quan trọng nhất. Theo tôi, điều đó không đúng.
Nhưng số đó không chỉ dành riêng cho giáo dục đại học. Cách tư duy cào bằng của Việt Nam cho giáo dục vẫn chưa thay đổi. Giáo dục đại học đòi hỏi cực kỳ nặng về cơ sở vật chất. Phải đầu tư rất nhiều cho một số trường đại học công thành những đại học tiêu điểm. Ví dụ như trường Đại học Quốc gia nếu đầu tư thật sự thì 20 năm nữa có thể trở thành trường đại học đẳng cấp. Có điều buồn cười là nhiều ông hiệu trưởng vẫn băn khoăn phải làm thế nào để mỗi năm giảng viên có thu nhập gần gấp đôi, vì thế làm sao có tiền đầu tư. Tiền đầu tư thì vẫn làm theo chủ nghĩa bình quân vì sợ mọi người thắc mắc. Mà cái này là Nhà nước phải giải quyết chứ đâu phải việc của Hiệu trưởng?
PV : Ông đã từng nói : Số tiền 20.000 USD cho du học sinh thà để đào tạo tiến sĩ trong nước còn hiệu quả hơn. Nhưng với cách đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ như ở Việt Nam hiện nay, chúng tôi nghĩ số tiền 20.000 USD dành cho du học sinh sẽ hiệu quả hơn?
GS HHT : Chưa chắc! Chiến lược đào tạo tiến sĩ Việt Nam ở nước ngoài phải tính theo kiểu chiến lược “đường trường” giống Nhật Bản, Trung Quốc. Gửi đi rồi 20 – 30 năm sau sẽ “đơm hoa hái quả”, chứ không phải đào tạo vài ba năm rồi trở về như hiện nay. Như vậy cũng sẽ thành tiến sĩ “giấy” như đào tạo trong nước. Chỉ có một số người thực sự đam mê làm việc, tự tạo cơ hội giao lưu khoa học nên không bị “ngu” đi… Chiến lược đào tạo tiến sĩ nên tập trung vào khoa học – công nghệ là chủ yếu.
20 năm qua, chúng ta đã có một lỗ hổng rất lớn về đào tạo. Có những tiến sĩ đào tạo ở nước ngoài, nhưng lại đi buôn. 20 – 30 năm tới mới là hái quả. Vì đó là thời gian họ trưởng thành trong công việc nghiên cứu của mình và tiếp cận, tiếp thu những kiến thức công nghệ hiện đại, sau đó sẽ trở
về đất nước phục vụ đúng lúc, đúng thời. Nếu đào tạo xong mà cho về ngay trong điều kiện hạn chế thì cái bằng đó khó có tác dụng. Mình phải bổ sung một đội ngũ giảng dạy cực kỳ lớn có bản lĩnh, trí tuệ về mặt khoa học và nghiệp vụ. Đó là chiến lược phải làm.
PV : Nhưng có gì đảm bảo họ sẽ quay trở về và trụ vững trong một điều kiện và cơ chế làm việc nếu vẫn như cũ?
GS HHT : 20 – 30 năm nữa, tôi đảm bảo là xã hội sẽ không như ngày hôm nay. Chỉ 5 năm trước đã khác hẳn bây giờ. Có thể bản thân lớp lãnh đạo mới không “phá” vỡ được cơ chế cũ, nhưng sẽ chuẩn bị mọi điều kiện cho những lớp lãnh đạo sau thực hiện. Điều này phụ thuộc bản lĩnh lãnh đạo, tốc độ phát triển xã hội, tình hình khách quan của thế giới.
20 năm nữa, Việt Nam bắt buộc phải thay đổi, nếu không sẽ bị chính những ràng buộc của WTO đè chết.
Tại sao mình không đào tạo một tiến sĩ có chất lượng ở trong nước. Nhưng ở trong nước chỉ cần cái bằng chứ không cần chất lượng, trong khi ở trên thế giới ngược lại. Việt Nam chỉ cần chức danh in vào danh thiếp.
Nhưng muốn đào tạo tiến sĩ có chất lượng để đáp ứng ngay nhu cầu xã hội thì phải đào tạo trong nước chứ đào tạo bên ngoài thì không kịp và không đủ ngân sách ngoài. Số tiền đào tạo một tiến sĩ ở nước ngoài là 50.000 USD/năm, 4 năm 200.000 USD, 10 tiến sĩ là 2 triệu USD… Liệu Việt Nam có đủ sức dành số tiền đó để đào tạo? Trong khi đào tạo một tiến sĩ trong nước khoảng 4.000 USD/năm. Tôi chỉ cần 20.000 USD để trả học bổng cho sinh viên chịu khó ngồi ở phòng nghiên cứu này (tiền lương tương ứng với công sức bỏ ra) là cũng đảm bảo những tiến sĩ “thật”.
Nhóm phóng viên Vietimes thực hiện