![]() |
PGS Cao Xuân Hạo (ngồi, thứ hai từ trái sang), trong sinh nhật lần thứ 77 của mình. Ảnh: H.Dũng |
Thế là nhà trí thức tài hoa ấy đã ra đi. Và lần này, nhà ngữ học bậc thầy ấy ra đi “một cách tuyệt đối”, không còn cách gì cứu vãn được nữa. Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở, tôi tuy thương lấy nhớ làm thương, tuổi già hạt lệ như sương….
Phải cố nghĩ đến câu thơ người xưa khóc bạn để mà gắng vơi đi nỗi đau đã được báo trước. Đành rằng, rồi cũng phải lấy nhớ làm thương, vì làm sao cưỡng lại được quy luật nghiệt ngã mà ai rồi chẳng phải đón nhận.
Bản lĩnh một trí thức
Tự nhận mình là người trần tục, để không thể nào chấp nhận những ai đó “lấy làm thỏa mãn với dăm bảy thí dụ chợt nghĩ ra trong vài giây, vào những khoảnh khắc xuất thần của thiên tài”. Nhà trí thức tài năng ấy đã quyết dành “hằng buổi, hằng tuần, hằng tháng, hằng năm nếu cần, lần giở từng trang từ điển hòng kiểm tra lại những phát hiện sáng chói mà các bậc thiên tài đã thực hiện, và hễ có cơ may thì tự mình tìm ra những quy tắc khác ít mang dấu ấn của thiên tài, nhưng lại vượt qua được sự thử thách của một quá trình kiểm nghiệm kỳ khu, để lần mò tới những sự thật có thật trong tiếng Việt chứ không phải trong tiếng Pháp hay tiếng Nga”(*).
Và thực sự là anh đã tạo ra “cơ may” ấy bằng cách góp phần quan trọng vào việc làm nên một diện mạo của Việt ngữ học từ khi có nền đại học Việt Nam. Nhưng xin hãy để chuyện này cho các nhà ngữ học, đồng nghiệp của anh, bình luận thẩm định về anh, là người ngoại đạo của chuyên ngành này, tôi xin chỉ xin khóc bạn về đôi điều cảm nhận về bản lĩnh của người trí thức và cũng do đó mà phải gánh chịu một thân phận nghiệt ngã của người trí thức, người tôi yêu mến và kính trọng.
Con người ấy, như anh đã tự kể về mình: “Cách đây gần bốn mươi năm, một người bạn học cũ, khi thấy tôi ngồi mỗi ngày mười tiếng trong Thư viện Khoa học ở phố Lý Thường Kiệt để đọc cho bằng hết các sách ngôn ngữ học, tri thức luận và lô gích học trong đó, có khuyên tôi thôi làm cái chuyện dã tràng xe cát ấy đi, vì nếu muốn giỏi bằng một anh phó tiến sĩ của Nga, một người Việt Nam tự học phải thông minh gấp ba và đọc gấp mười mới được.
Lòng tràn đầy tự ái, tôi đáp: “Sao anh biết tôi không thông minh gấp ba và sẽ đọc nhiều gấp mười nó”(*). Cao Xuân Hạo kể để tự phê phán mình, nhưng qua đó, có thể hiểu ra được ngọn nguồn tài năng của thân phận nghiệt ngã mà người trí thức tài hoa ấy đã phải gánh chịu. Tự giam mình mỗi ngày mười tiếng như vậy trong suốt mười lăm năm, chỉ “làm tư liệu” để “phục vụ nghiên cứu”.
Để “phục vụ nghiên cứu”, Cao Xuân Hao tự trở thành một nhà ngữ học tài ba mà tác phẩm của anh đã làm “một cuộc cách mạng Copernic thực sự của ngữ học hiện đại” (**) như nhận định của Jean-Pierre Chambon. Và anh đã để lại cho đời hơn hai vạn trang sách dịch văn học, trong đó có các kiệt tác như Chiến tranh và hòa bình, Tội ác và hình phạt, Con đường đau khổ, Khải hoàn môn, Đèn không hắt bóng, Papillon – người tù khổ sai…
Điều đáng nói hơn nữa, khi dịch như vậy, từ cái vốn hiểu biết sâu sắc thành tựu của ngữ học hiện đại qua quá trình làm tư liệu “phục vụ nghiên cứu”, trên cơ sở bám rất chắc vào mảnh đất tiếng Việt, khẳng định dứt khoát “Linh hồn tiếng Việt không hề mất”? Cái ý vị vô song của ca dao, tục ngữ, của những câu Kiều, những câu ngâm của người chinh phụ vẫn còn sống mãnh liệt trong tiếng nói hằng ngày của dân ta…”(*), anh đã có dịp so sánh, đối chiếu cách diễn đạt tiếng Việt và các thứ tiếng châu Âu, rút ra được những điểm dị đồng giữa hai loại hình ngôn ngữ, Cao Xuân Hạo đã dám sửa cái chuẩn tắc vốn được giới ngữ học thừa nhận theo quan điểm “dĩ Âu vi trung” (europeocentrism), mở ra một hướng mới đầy thách thức.
Bóng tối và ánh sáng
Cao Xuân Hạo đã cố gắng thực hiện cái lương năng trí thức của mình như C.Mác đã từng chỉ ra, người trí thức là người “phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không thụt lùi dù trước kết luận của chính mình…”.
Nhưng rồi số phận đã chơi khăm anh, là nhà ngôn ngữ học tài ba, anh đã không còn diễn đạt được ý nghĩ anh có trong đầu sau mấy lần bị tai biến, tình trạng ấy kéo dài mãi cho đến khi anh không còn nói được nữa, chỉ biểu đạt ý nghĩ của mình bằng ánh mắt.
Thì cũng giống như Tsêkhốp đấy thôi, suốt đời “dùng ngòi bút tinh nhuệ của mình để phát giác ra những cái mốc meo của sự phàm tục” để khi ông mất, thi hài của ông được chuyên chở về Petersburg trên cái vagông đen chứa sò huyết của chuyến tàu chợ! Tôi nhớ mãi ngón tay trỏ của Hạo cứ gõ gõ trên ngực mình ngày anh mới nhập viện mà cô cháu đứng lau mồ hôi cho anh giải thích “là ông cháu gõ vi tính đấy ạ. Ông cháu chỉ đánh vi tính được theo kiểu mổ cò”! Nhà ngữ học tài hoa ấy vẫn đang tư duy, chỉ không nói được!
Hạo ơi, anh đã tuyệt đối nằm xuống, nhưng sự nghiệp của anh thì đang đứng dậy vì càng ngày người ta sẽ càng nhận ra khoảng trống về sự thiếu vắng của một tài năng bẩm sinh từ cái gien di truyền và sự truyền dạy của cha anh, người thầy đáng kính của riêng anh và của một lớp trí thức có nhân cách, thầy Cao Xuân Huy – một bậc minh triết, từng được mệnh danh là một nhà “Đạo học” ngay từ buổi mới trong ngoài ba mươi tuổi.
Được sự chăm sóc và truyền dạy của cha, Cao Xuân Hạo theo được cái chí của cha với cảm nhận thường trực về “cái gánh nặng tinh thần đang đè lên một người con không thực hiện được hoài bão của cha, một người học trò dốt đã phụ lòng mong đợi của thầy”(*).
Sự tự vấn ấy khiến anh để lại lời nhắn gửi “hy vọng các nhà khoa học nhân văn thuộc các ngành khác nhau, nhất là các đại diện của thế hệ trẻ, sẽ tiếp tục nghiên cứu theo hướng này”(*), tức là hướng từ sự khác nhau về cấu trúc ngôn ngữ (tuyến tính/phi tuyến tính) để suy nghĩ thêm về sự khác nhau về phương thức tư tưởng giữa phương Đông và phương Tây mà cụ Cao Xuân Huy đã dẫn dắt anh.
Tôi muốn mượn lời của chính anh, để nói về sự nghiệp của anh, khi với tư cách là một nhà ngữ học tài ba, một nhà dịch thuật uyên bác để kiến nghị về cách anh hiểu một ý thơ của Nazim Hikmet qua sự diễn đạt tinh tế của tiếng Việt mà anh suốt đời đau đáu:
Nếu tôi không cháy lên / Nếu anh không cháy lên / Thì làm sao / Bóng tối / Có thể trở thành / Ánh sáng?
Ở thế giới bên kia, anh hãy tự bằng lòng vì anh đã giúp “mỗi người trong chúng ta phải có đủ nhiệt huyết để dám tự thiêu hủy trong đấu tranh thì Chân mới thắng được Ngụy, Thiện mới thắng được Ác”(*) như anh đã từng lý giải về cách dịch câu thơ của Hikmet.
(*) Những trích dẫn đều lấy từ “Tiếng việt, văn Việt, người Việt” của Cao Xuân Hạo.
(**) “Có lẽ chính cái hướng do Cao Xuân Hạo chỉ ra – chứ không phải hướng của ngữ pháp tạo sinh cái biến – mới thật là cái hướng mà ta phải theo để tìm đến một cuộc cách mạng Copernic thực sự của ngữ học hiện đại” (Revue des langues romanes. Tome LXXXIII. No.1978 fasc. 1.pp.205-210). Dẫn lại theo Hoàng Dũng trong “Cao Xuân Hạo – Nhà ngữ học”.