Văn minh hiện đại : Cần phải có lớp "quý tộc tinh thần" mới!

…Chúng ta dạy kiến thức, nhưng bỏ quên mất một kiểu dạy quan trọng nhất cho sự phát triển con người, kiểu dạy ấy chỉ có thể thực hiện được nhờ sự có mặt đơn thuần của một nhân cách lớn, hoàn chỉnh… ”.

Các nước phát triển thực hiện quốc sách bồi dưỡng nhân tài cùng với nhiệm vụ đào tạo nhân lực và nâng cao dân trí trong mấy thế kỷ liền theo một quy trình thống nhất : trước hết, người ta lập ra các Viện Hàn lâm Khoa học – Nghệ thuật, các Viện ấy đào tạo nên đội ngũ giảng viên, giáo sư cho các trường đại học và cao đẳng được lần lượt mở sau đó, rồi các trường đó đào tạo giáo viên cho các trường trung học và tiểu học. Từ đó, mạng lưới dần dần mở rộng, tiệm tiến nhưng vững chắc, có nền nếp, quy củ, chất lượng giáo dục đào tạo luôn luôn được giữ vững.

Khi Piotr Đại đế chủ trương khai hoá nước Nga còn chìm đắm trong dốt nát, ngu tối, ông cũng làm đúng như thế : việc đầu tiên, ông lập Viện Hàn lâm Khoa học ở Petersburg, mời nhiều nhà bác học lớn của châu Âu (Euler, Bernoulli) sang giúp Nga xây dựng nền khoa học và đào tạo lực lượng giảng dạy cho các trường Đại học Tổng hợp mà trường đầu tiên được mở ở Mátxcơva năm 1755. Sau 30 năm hoạt động của Viện Hàn lâm, trường thứ hai mở ở Kazan năm 1804, trường thứ ba mở ở kinh đô năm 1819… Các trường Đại học Tổng hợp ấy và các trường chuyên ngành được mở sau này trong suốt thế kỷ XIX, với trình độ, chất lượng đào tạo không thua kém các Viện Đại học lâu đời hơn ở châu Âu, đã tạo nên cho nước Nga một tầng lớp trí thức tinh hoa bao trùm mọi lĩnh vực. Đa số những thức giả và nhân tài ấy đã đi theo cách mạng và đóng góp rất lớn vào việc xây dựng và phát triển nền khoa học – kỹ thuật, nền nghệ thuật Xô-viết.
Nhiều trí thức Việt Nam ngày nay được thừa hưởng một nền đào tạo là thành quả của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và của cả hai thế kỷ phát triển liên tục và rực rỡ của nền văn minh Nga, một nền văn minh đã trở nên vĩ đại nhờ nội lực dồi dào của nó và nhờ nó biết học hỏi những nền văn minh tiến trước nó, tiếp thụ nhuần nhuyễn những thành tựu và kinh nghiệm của họ, biến cái của người thành cái của mình.

Hiện nay, 50 năm sau cách mạng tháng Tám, đội ngũ trí thức của nước ta được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau đã không còn thưa thớt và trong đội ngũ ấy có không ít tài năng đích thực. Có điều, nó bị phân tán quá rời rạc về hàng trăm cơ sở nghiên cứu và đào tạo, mà giữa các cơ sở ấy còn quá thiếu sự đồng tâm hiệp lực, sự hợp đồng tác chiến nhịp nhàng dưới sự chỉ đạo thống nhất của Nhà nước. Cái đó không thể không hạn chế nghiêm trọng hiệu quả của công tác nghiên cứu, đào tạo.
Việc tập hợp các trường đại học vào các Đại học Quốc gia, hợp nhất các cơ sở nghiên cứu với các cơ sở đào tạo là hết sức cần thiết. Nó cho phép tập trung những lực lượng nghiên cứu, giảng dạy tinh nhuệ, dần dần hình thành những trung tâm đào tạo đặc tuyển, hun đúc cho đất nước ngày càng nhiều những tài năng thực sự. Việc tuyển chọn những học sinh giỏi cử đi học ở nước ngoài vẫn luôn luôn là một hướng hữu hiệu.

Tuy nhiên, có nhiều chuyên ngành, chuyên môn, trước hết trong lĩnh vực văn hoá – nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn chỉ có thể đào tạo được ở trong nước. Nâng cao chất lượng, trình độ đào tạo ở những khu vực này là nhiệm vụ hết sức bức xúc. Trong cơ chế hiện nay, ngay việc cử những học sinh ưu tú đi đào tạo ở nước ngoài cũng cần được tính toán, xếp đặt lại. Một thần đồng của chúng ta, Ngô Bảo Châu, hiện đang học ở École Normale Supérieure ở Paris, nhưng có gì bảo đảm là sau khi thành tài, nhà toán học ấy sẽ về nước làm việc, góp sức xây dựng trường phái toán học Việt Nam, chứ không nhận lời mời của một Trung tâm Khoa học hay một Viện Đại học nào đó của nước Pháp, y như Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Thái Sơn đương dạy ở nhạc ở nước ngoài, chứ không phải Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh?


Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Thái Sơn

Kẻ viết bài này mơ ước thấy ngày Nhà nước Việt Nam sẽ cấp những học bổng đặc biệt cho những thanh niên tuấn kiệt đi du học nước ngoài, còn ở trung tâm thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến thì một số toà nhà cũ kiến trúc rất đẹp hiện nay là trụ sở của một số cơ quan hành chính sẽ được chuyển cho các trường bồi dưỡng, đào tạo các nhân tài trẻ tuổi. Những hành động thiết thực và đầy ý nghĩa như thế sẽ tác động mãnh liệt đến ý chí phụng sự Tổ quốc ở các tài năng.

Từ “văn hiến”, như mọi người đều biết, bao hàm ý nghĩa về một xã hội có văn tự, có sách và có nhiều người hiền tài. Hiền tài, chứ không phải chỉ có tài. Đây là một khái niệm rất cơ bản làm nền cho lý tưởng nhân văn, cho hệ giá trị của dân tộc chúng ta cùng các dân tộc phương Đông và có ý nghĩa toàn nhân loại. Người hiền tài, như cha ông ta quan niệm, khác biệt một trời một vực với người bác học hoặc kỹ sư cao cấp trong xã hội hiện đại, những người đã vừa làm nên những thành tựu kỳ diệu làm giàu, làm đẹp, làm tiện nghi cuộc sống của con người, lại vừa chế tạo ra những phương tiện có sức tiêu hủy vĩnh viễn sự sống trên Trái đất này.

Sự mất đi những người hiền tài, mất đi tầng lớp “quý tộc tinh thần” là một tai họa xã hội mà những bộ óc ưu thời mẫn thế ở phương Tây đã cảm nhận sâu sắc từ lâu. Erich Fromm, một triết gia Đức – Mỹ nổi tiếng, người hâm mộ Mác và am hiểu văn minh phương Đông, viết trong cuốn sách Nghệ thuật yêu : “Chúng ta dạy kiến thức, nhưng bỏ quên mất một kiểu dạy quan trọng nhất cho sự phát triển con người, kiểu dạy ấy chỉ có thể thực hiện được nhờ sự có mặt đơn thuần của một nhân cách lớn, hoàn chỉnh. Ở những thời đại xa xưa của nền văn hoá của chúng ta, ở các nền văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ, người được ngưỡng mộ hơn cả là con người có những phẩm giá tinh thần siêu việt. Người thầy ở đấy không chỉ và thậm chí trước hết không phải là nguồn thông tin : nhiệm vụ của anh ta là truyền thụ những tâm thế, những phép ứng xử nhất định cho con người.

Trong xã hội tư bản hiện đại (…), những con người được hâm mộ, được bắt chước có thể là ai cũng được, nhưng chỉ không phải là những con người có những phẩm chất tâm hồn kiệt xuất… Nếu chúng không thay đổi được cục diện, nếu chúng ta không gìn giữ được cách nhìn đúng đắn về giá trị của cuộc sống, thì chúng ta sẽ đứng trước nguy cơ hiện thực đoạn tuyệt toàn bộ với truyền thống văn hoá của chúng ta. Truyền thống ấy trước hết dựa trên cơ sở truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác, không phải những kiến thức này hay kiến thức kia, mà là những phẩm chất con người nhất định. Nếu những thế hệ mai sau không còn được thấy những phẩm chất ấy nữa thì nền văn minh ngàn năm của chúng ta sẽ tử vong, ngay cả nếu tri thức vẫn tiếp tục được truyền thụ và ngày càng trở nên phong phú hơn, quyền lực của con người đối với thiên nhiên ngày càng lớn hơn”.

Những lời cảnh cáo ấy được phát biểu cách đây bốn thập kỷ. Các nhà tư tưởng phương Tây hôm nay nói rất nhiều về sự tất yếu của một cuộc “cách mạng nhân bản” mà theo họ chỉ có nó mới cứu vãn được nền văn minh hiện đại. Cuộc cách mạng nhân bản ấy bao hàm sự thay đổi cơ bản những định hướng giá trị của con người, sự trở về với nhiều giá trị truyền thống đã bị vứt bỏ hoặc bị lãng quên.

Trong cục diện toàn cầu ấy, thực hiện quốc sách bồi dưỡng nhân tài nhằm mục đích “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”, thiết tưởng rất nên làm sống lại lý tưởng hiền tài của cha ông chúng ta, gắn chặt khăng khít không thể tách rời chữ “tài” với chữ “tâm” trong giáo dục, đào tạo, sử dụng, đánh giá con người. Muốn thế, một việc làm thiết thực là cần tôn vinh những người hiền tài đích thực làm gương cho xã hội noi theo. Một trong những người hiền tài như thế mới đột ngột từ giã chúng ta là giáo sư Trần Đình Hượu. Trong tang lễ, giữa rất nhiều vòng hoa bên linh cữu, có một vòng hoa to nhất, đẹp nhất với lời ghi chú : “Những môn sinh của thầy”. Chi tiết nhỏ ấy cho thấy truyền thống tôn sư trọng đạo, ngưỡng mộ hiền tài vẫn sống trong xã hội Việt Nam hôm nay và là một nhân tố góp phần bảo đảm cho quốc sách bồi dưỡng nhân tài không đi chệch đích, đạt được thắng lợi mà tất cả chúng ta đều mong ước.

Giáo sư Phạm Vĩnh Cư

Theo Vietimes

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *