(THVL) Võ Kalaripayat

Võ Kalaripayat thịnh hành khắp Ấn Độ, đặc biệt là ở miền nam bang Kélara. Kalaripayat là môn võ thuật truyền thống đích thực có cội nguồn lâu đời. Sau đó thì những môn đệ của Đức Phật đã phát triển ra các nước châu Á để rồi sau này trở thành võ thuật truyền thống hiện đại. Riêng ở Trung Quốc xưa, theo truyền thuyết thì chính Ngài Bồ Đề Đạt Ma đã truyền bá môn võ thuật này đến đó.

Kalari là một cổ thụ bắt rễ từ bang Kêrala, nơi cao nguyên Đêcan tiếp giáp với biển, cành lá tỏa rợp khắp Ấn Độ. Võ Kalari xuất phát từ Kalaripayat, binh thư đồ trận của nữ thần chiến tranh Ấn Độ Mahakali, có một lịch sử lâu đời. Theo những văn bản xưa còn lưu lại, quyền phổ Sutra (kinh) ghi các chiêu thức và huyệt đạo con người, võ Kalari được hệ thống hóa một cách khoa học cách nay hơn 3000 năm. Các võ sư Kalari đều là những người minh triết, chẳng hạn như Bồ Đề Đạt Ma là một. Thập niên trước đây, đài BBC (Anh) đã thực hiện một phim tài liệu về võ thuật Kalari còn sót lại trên đất Ấn cho thấy những chiêu thức và võ công (nội ngoại công) không khác gì quyền phổ Sutra đã ghi trước công nguyên hơn 1000 năm.

Võ Kalari được truyền dạy và rèn luyện trong các ngôi đền thờ Tổ sư nữ thần Mahakali và các võ sư bậc thầy tiền bối. Bắt đầu buổi tập luyện, các võ sinh thực hiện nghi lễ bái Tổ, nằm phủ phục trước bàn thờ có ảnh tượng của nữ thần. Nội dung tập luyện gồm có phần khởi động trước tiên, chung cho các bộ môn, sau đó tùy theo trình độ của người thụ giáo: quyền pháp, võ công nội ngoại, vũ khí, y võ huyệt đạo. Khởi động là những động tác lập đi lập lại đủ bốn hướng có mục đích làm mềm dẽo các cơ khớp và thư giản thần kinh.

Quyền pháp Kalari được diễn mềm mại uyển chuyển như múa, như thể nghi lễ thờ phụng. Các nhà nghiên cứu võ học tự hỏi phải chăng công lao của các nhà sư Thiên Trúc là du nhập hình thái này vào đất Trung Hoa ươm trồng, sau nẩy nở sau phát triển thành nhu quyền. Về các công phu nội, ngoại công, các võ sư Kalari biểu diễn đi chân không trên than hồng, nằm lưng trần trên mảnh chai vỡ, năm cho ô tô chạy qua trên tấm ván đặt ở bụng, dùng kìm kẹp vào các bắp cơ không chút hề hấn… Với những đặc dị công phu, võ sư Batari cầm cái chảo kim loại hơ vào lửa trong nữa tiếng đồng hồ, tay không phỏng. Đôi tay ông còn có sức mạnh bẻ gãy cây thông mà sáu người lực lưỡng không sao làm được. Võ sư Rummuati dùng ngực đỡ một con voi. Võ sư Xixila biễu diển khinh công tỉnh tọa hoa sen treo lơ lửng trên không trung, với một tay níu sợi dây mảnh, đánh bằng đay, cột hai đầu hai cây sào dài trồng thẳng đứng.

Các vũ khí cổ xưa vẫn còn truyền dạy như kiếm, dao. Các võ sinh biểu diễn song đấu vũ khí thật như: dao, kiếm thép nặng và bén, họ múa vun vút, vũ khí chạm nhau loảng choảng, nhưng họ không hề hấn gì. Loại thiền trượng rất được nhân dân ưa thích, ai cũng tập. Gậy ngắn Silamban cũng được ưa chuộng, phổ biến đến độ ai cũng có thể cầm một khúc gổ ngắn làm vũ khí tấn công hoặc tự vệ rất hữu hiệu. Các cao thủ loan Silamban kín đến mức cách xa chừng ba thước gạch đá ném không lọt trứng người. Còn có những vũ khí đặc thù của xứ Ấn như Onta hình thù như ngà voi, dài khoảng 4 dm dùng để điểm huyệt. Người Ấn vận xà rông, chiếc thắt lưng cũng là vũ khí khi cần, gọi là Urimi, dây thép mỏng và bén tương tự như liễu diệp kiếm của các hiệp khách diệu thủ Trung Hoa quấn quanh eo. Một thứ vật dụng cũng được coi làm vũ khí là chiếc khăn Ururoly, dân lao động hay vắt vai lau mồ hôi ở xứ nắng nóng. Giới giang hồ võ lâm Trung Hoa cũng sở trường cân pháp (phép đánh khăn).

Còn một điểm tương đồng đáng nói giữa hai nền võ thuật Ấn Độ và Trung Hoa là các võ sư Kalari hay Thiếu Lâm (hiện nay thông dụng để gọi chung Võ thuật Trung Hoa) đều có thể điểm huyệt để vô hiệu hóa đối phương trong chiến đấu hay trong chữa bệnh không cần thuốc thang. Quyền phổ của Kalari được ghi lại thành kinh Sutra có hơn 3000 năm, mô tả vị trí, chức năng của 108 huyệt đạo trên cơ thể con người cùng phương pháp chữa trị bệnh và hồi phục sức khỏe, chia ra hai loại: (96 yếu huyệt khi chạm vào gây thương tích trầm trọng hay liệt bại, còn 12 hiểm huyệt gây tử vong. Các nhà nghiên cứu võ học càng thêm thắc mắc, phải chăng công đức vô lượng của Thiền Sư Bồ Đề Đạt Ma được tôn vinh Tổ sư võ thuật là phổ độ nền võ thuật Trung Hoa cái bí kíp của võ Kalari thông qua các nhà sư Chùa Thiếu Lâm? Ngày nay, người Nhật vốn là người học trò nhạy bén, các võ sư, các nhà võ học Nhật không chỉ hành hương đất thánh chùa Thiếu Lâm, mà còn cất công lặn lội tới cội nguồn Kalari tận Thiên Trúc.

Dĩ nhiên với sự phát triển rộng khắp, người ta vẫn thấy có đôi nét khác biệt giữa Kalari của miền Bắc và miền Nam Ấn Độ. Dù là một môn võ mà môn Kalari đều có các nét đặc thù, nhưng những võ sư chuyên nghiệp vẫn đồng bộ hóa các thứ vũ khí trong khâu tập luyện. Ngoài ra, họ còn chế tạo ra những loại dấu đặc biệt dùng để xoa bóp cho các môn sinh khi cần gọi là dầu huzhilchil.

Shree Narayana, vị thầy tinh thần của Kalari Smaraka Valibhatta ở Chavakkad thuộc tỉnh Trichur là vị tiêu biểu cho việc vừa truyền võ thuật, vừa chữa bệnh.

Một vị khác nữa, đó là C.Sancaranaryoana Menon, giáo sư bác sĩ và cũng là một vị thầy tinh thần của Hiệp hội Kalara Kalaripayat. Ông chuyên chữa chỗ xương gãy lắp lại không khớp, khiến xương mọc dài ra xuyên vào bắp thịt làm cho con người phải đau đớn, bằng cách xoa nắn cùng với một loại dầu đặc biệt được chiết ra từ một số cây cỏ.

Mỗi năm, vào mùa gió mùa, thầy C.S.Menon, mở một khóa kéo dài 7 ngày chuyên luyện cho các môn sinh nhiều cách xoa bóp khác nhau để luyện cho thuần thân thể. Lại có thêm bài học luyện chân để đôi chân các học viên có cảm giác bén nhạy trong mọi vị trí khác nhau.

Mỗi ngày, ngay từ 5 giờ sáng, thầy C.S. Menon, con trai trưởng và hai trong số những đứa con trai còn lại hướng dẫn cho 30 môn sinh, trong đó có những đứa trẻ vừa lên bảy. Sau khi giải thích xong, mỗi môn sinh chuẩn bị dầu, gừng, và những cây cỏ thuốc xát khắp thân thể, xoa bóp các cơ bắp, rồi tập một loạt 10 động tác. Mỗi động tác đều khác nhau. Cũng giống như Yoga, những bài tập này không chỉ dùng để kiểm tra, rèn luyện cho thân thể có sức khỏe ngoại hạng, mà còn luyện cho cả tinh thần sáng suốt, tinh tế.

Đặc trưng những bài tập Kalari ở giai đoạn đầu của người tập võ là một chuỗi gồm 18 động tác duyên dáng và chính xác liên kết với nhau thật chặt chẽ. Sau đó, các môn sinh sẽ được thầy lựa chọn để tu luyện tiếp mà thành người hoàn thiện. Tu luyện để tìm ra bản ngã của chính mình. Ở giai đoạn cuối cùng này, các môn sinh bắt đầu sử dụng các thứ vũ khí chiến đấu theo truyền thống.

Bởi vậy, cuộc lựa chọn này rất quan trọng đối với những môn sinh. Trong suốt thời gian chọn lựa, họ phải chứng tỏ mình không phạm phải một hình ảnh xấu nào khi tham dự các trận đấu tranh tài. Lúc này, ngoài việc biểu diễn những bài đã học về kỹ thuật chiến đấu, thị, thần lực lại chiếm một vị trí quan trọng, sự tập trung thị lực giúp họ lấy lại sự cân bằng cho cơ thể trong lúc lâm trận để bước vào giai đoạn thực hiện các động tác khác.

Những môn sinh của Kalari gọi những điểm trọng yếu của môn võ truyền thống này là Marmas. Marmas là điều cốt yếu đối với những ai đang chiến đấu và chữa trị. Nó nâng cao lòng tin cho các môn sinh ngay cả khi xuống tay hạ sát một đối thủ. Bài học trọng yếu này do Ayurvedic Susruta Samhita thống kê lại gồm 107 điểm và 67 điểm được coi như là những nơi dễ bị tổn thương lúc chiến đấu trước địch thủ.

Thầy sẽ chỉ cho môn sinh tất cả những điểm trọng yếu, đồng thời cũng chỉ luôn cách tấn công và cách phòng ngự.

Người Anh khi đến Ấn Độ, được biết sự lợi hại của võ cổ truyền Kalaripayat, nên đã ra lệnh cấm phổ biến môn võ thuật này. Nhưng cũng như các nước có nền võ thuật cổ truyền khác ở châu Á, Kalariripayat lại rút về 4 bức tường của gia đình, của dòng họ và phát triển theo kiểu cha truyền con nối. Mãi cho đến năm 1920, Kalaripayat mới thực sự khởi động trở lại để rồi tạo nên một làn sóng phục hưng rộng khắp Ấn Độ, đặc biệt là miền Nam. Một số nhà quay phim võ thuật cổ truyền, như Bruce Lee chẳng hạn, đã dùng nghệ thuật thứ bảy để quảng bá cho môn võ này đến với đa số công chúng trên thế giới. Chính phủ Ấn Độ cũng như những người có trách nhiệm với nền võ thuật của quốc tế đã tổ chức những cuộc thi đấu, hay liên hoan võ thuật cổ truyền Kalaripayat. Và ngày nay, môn võ này đã trở nên một môn võ truyền thống hiện đại.

THVL

Các bài viết liên quan:

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb